*

*

Hướng dẫn lập Dàn ý chi tiết phân tích hình ảnh người phụ nữ qua bài thơ “ Tự tình 2” và “ Thương vợ" ngắn gọn, chi tiết, hay nhất. Với các bài dàn ý và văn mẫu được tổng hợp và biên soạn dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Dàn ý chi tiết phân tích hình ảnh người phụ nữ qua bài thơ “ Tự tình 2” và “ Thương vợ" - Mẫu số 1

*

1.Mở bài

Giới thiệu hình ảnh người phụ nữ trong văn chương.

Bạn đang xem: Dàn ý hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình và thương vợ

Giới thiệu hình ảnh người phụ nữ trong hai bài thơ.

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã xuất hiện trên bao trang giấy câu văn. Đó là người phụ nữ trong câu nói dân gian "Thân em như củ ấu gai / Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen / Ai ơi nếm thử mà xem / Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi", là nàng Kiều trong thơ Nguyễn Du và cũng là người phụ nữ trong “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương và người mẹ, người vợ trong “Thương vợ” của Tú Xương. Hình ảnh người phụ nữ trong hai bài thơ đều mang nét đẹp chung của người phụ nữ Việt Nam.

2.Thân bài

a. Người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, vất vả, gian nan

- “Thương vợ”: hình ảnh người phụ nữ chịu khó, lặn lội sớm khuya, vất vả quanh năm để lo cơm áo gạo tiền.

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.”

Buôn bán không lớn. Công việc diễn ra quanh năm, ngày đến ngày, tháng đến tháng, liên tục không có sự nghỉ ngơi diễn ra theo vòng tuần tự khép kín. Ngay cả người nông dân còn có lúc nông nhàn, nhưng với người làm nghề như bà Tú thì không có phút nào được nghỉ ngơi.“Ở mom sông”: chênh vênh, ba phía bốn mặt giáp sông và nước. Bà Tú bươn chải bán mua ở nơi nguy hiểm suốt năm suốt tháng, công việc ấy thật vất vả, gian nan.“Nuôi đủ năm con với một chồng”: gánh nặng bị đặt lên trên đôi vai của người phụ nữ mảnh mai yếu đuối. Người đàn bà làng chài còn có chồng chèo chống, còn bà Tú chỉ có một mình. Chồng đáng lẽ là trụ cột gia đình nay lại thành gánh nặng mưu sinh.“Đủ” hàm chứa bao nhiêu ý nghĩa: đủ ánh nặng chồng con: lo ăn lo học cho con, lo cho nhu cầu của chồng, của một ông Tú sĩ diện.

- “Tự tình II”: là nỗi buồn về thân phận, về chuyện tình duyên, về hạnh phúc lứa đôi.

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”

Thời gian: “đêm khuya”, thời gian của những nỗi niềm sâu kín, lúc con người được sống thực với mình nhất.

Không gian: yên tĩnh vắng lặng, quặng quẽ được gợi ra qua âm thanh của tiếng trống canh “văng vẳng”.

Con người xuất hiện đậm nét: “trơ”

Khi cảnh vật chìm vào giấc ngủ thì chỉ có mình Xuân Hương cô đơn, trăn trở. Thao thức giữa đêm khuya, cái cô đơn của phận hồng nhan, của kiếp người nhỏ bé trước cái dài rộng của không gian thời gian.

Từ “cái” thể hiện sự tầm thường, bình thường. Qua đó thấy được cảm giác chua xót, đau đớn cho thân phận của chính mình.

Từ “trơ” không chỉ là nỗi cô đơn mà còn như là thách thức với cuộc đời. Đó là tâm sự của Xuân Hương, bên cạnh nỗi đau bao giờ cũng là sự trỗi dậy của cảm xúc.

“Chén rượu hương đưa say lại tình

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

“Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”: vầng trăng sắp tàn, vầng trăng hao khuyết, gợi lên liên tưởng về sự lụi tàn mơ hồ. Ở đây có sự đồng nhất giữa trăng và người, giữa ngoại cảnh và tâm cảnh.

Hình ảnh vầng trăng gợi liên tưởng đến cuộc đời người phụ nữ đã ở bên kia dốc mà hạnh phúc vẫn chưa một lần trọn vẹn, duyên phận vẫn lỡ làng.

Vầng trăng cuộc đời, vầng trăng tâm trạng nói lên sự dở dang, muộn màng của cuộc đời người.

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”

Từ ‘ngán” đứng đầu câu cùng hai thanh trắc cuối câu “lại lại” làm câu thơ như nặng trĩu xuống.

Hai từ “lại” thể hiện tâm trạng, nỗi niềm của chủ thể trữ tình. Mùa xuân của đất trời đi qua rồi lại trở lại, sự sống cứ thế tuần tự, tuần hoàn nhưng con người nhạy cảm trong Xuân Hương lại phát hiện ra một nghịch lý: xuân đất trời đi qua sẽ trở lại nhưng xuân của người một đi không trở lại.

Trớ trêu hơn là người phụ nữ khao khát vẫn tràn đầy mà lại nhận ra hạnh phúc dến với mình quá ít ỏi: “mảnh tình” chỉ còn lại “tí con con”.

Phép tăng tiến và cụm từ “tí con con” đã tô đậm những thua thiệt trong duyên phận của nữ sĩ.

b. Người phụ nữ với nhiều nét đẹp tâm hồn

- “Thương vợ”: vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống Việt Nam: nhân hậu, đảm đang, giàu đức hi sinh.

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”

“Lặn lội”: nhấn mạnh nỗi chuân chuyên của bà Tú.

“Thân cò”: nỗi vất vả của bà Tú trong kiếp mưu sinh.

Hai câu thơ gợi lên dáng hình gầy guộc mong manh và số phận nhọc nhằn của bà Tú: sinh ra là kiếp con cò nên phải lặn lội, tần tảo, mưu sinh.

“Quãng vắng”: hiu quạnh, càng làm tăng thêm sự tội nghiệp, cái đáng thương.

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”: không khí cạnh tranh, bấp bênh nơi bến nước.

Công việc nơi bến nước hiểm nguy bon chen vậy nhưng bà Tú vẫn ngày qua ngày, tháng qua tháng làm lụng để nuôi chồng nuôi con. Đó là đức hi sinh của người mẹ với con, người vợ với chồng.

Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Ngay cả khi ý thức được nỗi vất vả, nhọc nhằn, nhận thức được người chồng “sĩ diện” của mình thì bà vẫn âm thầm lặng lẽ, chấp nhận tất cả nhọc nhằn về phía mình. Đó là sự hi sinh quên mình, là tấm lòng vị tha hết mực của bà Tú dành cho ông Tú và những đứa con.

- “Tự tình II”: không cam chịu phận hẩm hiu, khao khát được yêu thương

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đã mấy hòn”

Đám rêu mềm yếu, những hòn đá bé nhỏ vô tri: bình thường, tầm thường, bị vùi dập dưới bước chân của người đi đường.

Nhưng trong cái nhìn của nhà thơ thì người nữ sĩ thì rêu mềm yếu mà “xiên ngang mặt đất”, đá vô tri mà “đâm toạc chân mây”.

Phép đảo ngữ, động từ mạnh gợi cảm giác dữ dội của bức tranh thiên nhiên, tràn đầy sức sống mãnh liệt ngay cả trong bi thương.

Tả cảnh thiên nhiên nhưng là để nói tâm trạng con người. Xuân Hương không cam chịu, chấp nhận phận hẩm hiu mà luôn muốn bứt phá, phản kháng, chống lại hoàn cảnh trớ trêu một cách mạnh mẽ với nghịch cảnh, tự tìn và đầy khát vọng.

Ở hai câu luận ta không còn thấy cái bi lụy như bốn câu đầu nữa mà chỉ thấy những động thái đầy mạng mẽ của thiên nhiên cũng như là trong chính lòng người.

Nỗi chán chường dù phận hẩm duyên hiu cũng là một biểu hiện của khao khát được yêu thương, khát vọng tình yêu của người phụ nữ.

c. Đánh giá

Hai bài thơ đặt điểm nhìn khác nhau về người phụ nữ, nhưng cả hai tác phẩm đều là những bài ca ca ngợ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.

Hồ Xuân Hương đem đến cho người đọc về hình ảnh người phụ nữ tài sắc, thủy chung, nhưng lại chịu nhiều bất hạnh trong tình duyên thì Tú Xương mang đến cho chúng ta hình ảnh về đức hi sinh, chịu thương chịu khó của người phụ nữ. “Tự tình II” là người phụ nữ thì “Thương vợ” lại là một người mẹ, một người vợ.

3.Kết bài

Nêu cảm nhận chung về hình tượng người phụ nữ trong hai bài thơ.

Xem thêm: Doodle Là Gì ? Bí Quyết Vẽ Doodle Đẹp Bí Quyết Vẽ Doodle Đẹp

“Thương vợ” và “Tự tình II” đã cho người đọc những cái nhìn khác nhau về người phụ nữ, xong có một điểm chung là hình tượng người phụ nữ dù gặp nhiều khó khăn trong cuộc đời, số phận nhưng vẫn giữ được những nét đẹp tâm hồn. Đó đều là những phẩm chất truyền thống và có sự phát triển của người phụ nữ Việt Nam.

Dàn ý phân tích hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua Tự tình II và Thương vợ - Mẫu số 2